EPR bao bì là gì? Quy định và cách thực hiện năm 2026
- I. EPR bao bì là gì?
- II. Những loại bao bì nào thuộc diện EPR?
- III. Doanh nghiệp nào phải thực hiện EPR bao bì?
- IV. Tỷ lệ tái chế bắt buộc đối với bao bì
- V. Mức đóng góp và cách tính chi phí EPR bao bì
- VI. Doanh nghiệp thực hiện EPR bao bì bằng cách nào?
- VII. Cách kê khai EPR bao bì
- VIII. Những lỗi thường gặp khi kê khai EPR bao bì
- Gộp tất cả vật tư đóng gói vào EPR
- Chỉ tính bao bì tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm
- Phân loại bao bì theo hình thức thay vì vật liệu
- Dùng số lượng bao bì đã mua để kê khai
- IX. Câu hỏi thường gặp về EPR bao bì
- Thùng carton có phải thực hiện EPR không?
- Màng PE quấn pallet có thuộc EPR bao bì không?
- Doanh nghiệp dưới 30 tỷ đồng có phải thực hiện EPR bao bì không?
- Doanh nghiệp có bắt buộc phải tự tái chế bao bì không?
- Bao bì gồm nhiều vật liệu được kê khai thế nào?
- X. Doanh nghiệp nên chuẩn bị gì trước khi kê khai EPR bao bì?
EPR bao bì là trách nhiệm tái chế mà nhà sản xuất, nhập khẩu phải thực hiện đối với một số loại bao bì của sản phẩm được đưa ra thị trường Việt Nam. Doanh nghiệp không chỉ cần biết mình có thuộc đối tượng thực hiện hay không, mà còn phải xác định đúng bao bì thương phẩm, vật liệu cấu thành, khối lượng, tỷ lệ tái chế và hình thức thực hiện.
Từ ngày 25/5/2026, Nghị định 110/2026/NĐ-CP là văn bản trực tiếp quy định trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu. Thông tư 24/2026/TT-BNNMT tiếp tục hướng dẫn biểu mẫu, cách kê khai và mức đóng góp tài chính Fs.
I. EPR bao bì là gì?
EPR là viết tắt của Extended Producer Responsibility, được hiểu là trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất. Với bao bì, trách nhiệm không kết thúc khi sản phẩm được bán ra thị trường. Nhà sản xuất, nhập khẩu thuộc đối tượng áp dụng còn phải thực hiện trách nhiệm tái chế theo tỷ lệ và quy cách pháp luật quy định hoặc đóng góp tài chính để hỗ trợ hoạt động tái chế.
Nghị định 110/2026/NĐ-CP xác định "đưa ra thị trường" là việc nhà sản xuất, nhập khẩu chuyển giao lần đầu sản phẩm hoặc sản phẩm đã đóng bao bì hoàn chỉnh, sẵn sàng sử dụng hoặc tiêu thụ cho tổ chức, cá nhân khác nhằm mục đích lưu thông, kinh doanh tại Việt Nam. Đây là một mốc quan trọng để doanh nghiệp xác định khối lượng làm căn cứ thực hiện EPR.
EPR bao bì vì vậy không nên được hiểu đơn giản là doanh nghiệp sản xuất bao bì phải tái chế bao bì. Nghĩa vụ được xác định dựa trên chủ thể đưa sản phẩm có bao bì thuộc diện áp dụng ra thị trường, cùng với các trường hợp cụ thể về nhãn hàng hóa, gia công và nhập khẩu.
II. Những loại bao bì nào thuộc diện EPR?
Điểm đầu tiên cần kiểm tra là bao bì đó có phải bao bì thương phẩm hay không. Theo quy định về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, bao bì thương phẩm là bao bì chứa hàng hóa và lưu thông cùng hàng hóa. Bao bì thương phẩm gồm bao bì trực tiếp và bao bì ngoài.
Bao bì trực tiếp
Bao bì trực tiếp tiếp xúc trực tiếp với hàng hóa, chứa đựng hoặc tạo hình cho hàng hóa. Chai PET đựng nước, túi cà phê, lon nước giải khát, lọ mỹ phẩm hay túi nước giặt là những ví dụ dễ nhận biết.
Bao bì ngoài
Bao bì ngoài dùng để bao gói một hoặc nhiều đơn vị hàng hóa đã có bao bì trực tiếp. Hộp giấy chứa tuýp mỹ phẩm hoặc màng co bao quanh một lốc chai nước có thể thuộc nhóm này nếu chúng lưu thông cùng sản phẩm đến thị trường.
Bao bì không thuộc phạm vi cần kê khai
Không phải mọi vật liệu dùng trong quá trình đóng gói đều mặc nhiên thuộc EPR bao bì. Bao bì chỉ dùng để lưu giữ, vận chuyển hoặc bảo quản hàng hóa đã có nhãn cần được phân biệt với bao bì thương phẩm.
Điều này đặc biệt quan trọng với thùng carton, màng PE quấn pallet, pallet hoặc các vật tư đóng gói logistics. Không nên kết luận chỉ dựa vào vật liệu. Một màng co đi cùng lốc sản phẩm có thể là bao bì ngoài, trong khi màng PE chỉ quấn pallet để cố định hàng trong quá trình vận chuyển lại có chức năng khác.
Chức năng của bao bì và việc bao bì có lưu thông cùng sản phẩm đến người sử dụng hay không là những yếu tố cần xem xét khi xác định nghĩa vụ EPR.
Nghị định 110/2026/NĐ-CP áp dụng trách nhiệm tái chế đối với bao bì thương phẩm của các nhóm sản phẩm như:
- Thực phẩm, trừ kẹo cao su.
- Mỹ phẩm.
- Thuốc.
- Phân bón.
- Thức ăn chăn nuôi.
- Thuốc thú y.
- Xà phòng, chất tẩy rửa, làm bóng và chế phẩm vệ sinh.
- Xi măng.
III. Doanh nghiệp nào phải thực hiện EPR bao bì?
Nhà sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, bao bì thuộc danh mục của Nghị định 110/2026/NĐ-CP và đưa ra thị trường Việt Nam phải thực hiện trách nhiệm tái chế theo tỷ lệ và quy cách bắt buộc.
Tuy nhiên, xác định đúng chủ thể chịu trách nhiệm cần xét cả cách sản phẩm được sản xuất, nhập khẩu và phân phối.
Nếu cùng một nhãn hiệu được sản xuất tại nhiều nhà sản xuất, chủ thể chịu trách nhiệm về ghi nhãn hàng hóa là đối tượng thực hiện trách nhiệm tái chế.
Với hàng gia công, bên đặt gia công là chủ thể chịu trách nhiệm. Trường hợp nhập khẩu ủy thác, nghĩa vụ được xác định theo chủ thể chịu trách nhiệm về ghi nhãn hàng hóa theo quy định.
Trường hợp không phải thực hiện trách nhiệm tái chế
Một số trường hợp không phải thực hiện trách nhiệm tái chế gồm sản phẩm, bao bì để xuất khẩu, tạm nhập tái xuất hoặc phục vụ nghiên cứu, học tập, thử nghiệm.
Nhà sản xuất, nhập khẩu có tổng doanh thu từ các sản phẩm thuộc nhóm bao bì được quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 110/2026/NĐ-CP dưới 30 tỷ đồng/năm cũng thuộc trường hợp không phải thực hiện trách nhiệm tái chế.
Ngoài ra, nhà sản xuất đã đưa bao bì ra thị trường nhưng tự thu hồi và đóng gói để tiếp tục đưa ra thị trường với tỷ lệ bằng hoặc cao hơn tỷ lệ tái chế bắt buộc cũng thuộc trường hợp được quy định không phải thực hiện trách nhiệm tái chế đối với lượng bao bì này.
IV. Tỷ lệ tái chế bắt buộc đối với bao bì
Tỷ lệ tái chế bắt buộc, ký hiệu R, là tỷ lệ khối lượng bao bì tối thiểu phải được tái chế trên tổng khối lượng bao bì sản xuất, nhập khẩu được đưa ra thị trường trong năm có trách nhiệm.
Theo Phụ lục I Nghị định 110/2026/NĐ-CP, tỷ lệ tái chế bắt buộc của các nhóm bao bì được quy định như sau:
| Nhóm bao bì | Tỷ lệ tái chế bắt buộc |
|---|---|
| Giấy, carton | 20% |
| Giấy hỗn hợp đa lớp | 15% |
| Nhôm | 22% |
| Sắt và kim loại khác | 20% |
| PET cứng | 22% |
| HDPE, LDPE, PP, PS cứng | 15% |
| EPS, PVC cứng và nhựa cứng khác | 10% |
| Nhựa mềm đơn vật liệu | 10% |
| Nhựa mềm đa vật liệu | 10% |
| Thủy tinh | 15% |
Tỷ lệ này không cố định vô thời hạn. Nghị định quy định việc điều chỉnh tăng được thực hiện theo chu kỳ ba năm một lần, mỗi lần cộng thêm không quá 10%. Lần thay đổi đầu tiên dự kiến từ năm 2029.
Doanh nghiệp vì vậy cần phân loại đúng vật liệu. Chai PET và chai HDPE đều là bao bì nhựa cứng nhưng có tỷ lệ tái chế khác nhau. Việc gộp nhầm các nhóm có thể làm thay đổi khối lượng phải tái chế hoặc số tiền phải đóng góp.
V. Mức đóng góp và cách tính chi phí EPR bao bì
Nếu lựa chọn hình thức đóng góp tài chính thay cho tổ chức tái chế, số tiền EPR không được tính theo một mức cố định cho mọi loại bao bì. Mỗi nhóm vật liệu có mức đóng góp Fs riêng.
Theo Thông tư 24/2026/TT-BNNMT, mức Fs đối với các nhóm bao bì được quy định như sau:
| Loại bao bì | Fs |
|---|---|
| Giấy, carton | 1.900 đồng/kg |
| Giấy hỗn hợp đa lớp | 6.420 đồng/kg |
| Nhôm | 2.400 đồng/kg |
| Sắt và kim loại khác | 3.600 đồng/kg |
| PET cứng | 1.940 đồng/kg |
| HDPE, LDPE, PP, PS cứng | 3.880 đồng/kg |
| EPS cứng | 5.820 đồng/kg |
| PVC cứng | 7.760 đồng/kg |
| Nhựa cứng khác | 5.820 đồng/kg |
| Nhựa mềm đơn vật liệu | 8.320 đồng/kg |
| Nhựa mềm đa vật liệu | 10.700 đồng/kg |
| Thủy tinh | 1.980 đồng/kg |
Số tiền đóng góp được tính theo công thức:
F = R × V × Fs
- F: số tiền đóng góp tài chính.
- R: tỷ lệ tái chế bắt buộc.
- V: khối lượng bao bì được đưa ra thị trường.
- Fs: mức đóng góp tài chính trên một kilogram bao bì.
Ví dụ cách tính EPR cho bao bì PET
Một doanh nghiệp đưa ra thị trường 10.000 kg bao bì PET cứng. Tỷ lệ tái chế bắt buộc của PET là 22% và Fs là 1.940 đồng/kg.
Nếu doanh nghiệp lựa chọn đóng góp tài chính, số tiền được tính như sau:
F = 22% × 10.000 × 1.940 = 4.268.000 đồng
Fs và tỷ lệ R đều ảnh hưởng trực tiếp đến số tiền cuối cùng. Hai loại bao bì có cùng khối lượng nhưng khác vật liệu có thể tạo ra nghĩa vụ tài chính khác nhau.
VI. Doanh nghiệp thực hiện EPR bao bì bằng cách nào?
Nghị định 110/2026/NĐ-CP cho phép nhà sản xuất, nhập khẩu lựa chọn một trong hai hướng chính đối với từng nhóm sản phẩm, bao bì:
- Tổ chức thực hiện tái chế.
- Đóng góp tài chính để hỗ trợ hoạt động tái chế.
Tổ chức thực hiện tái chế
Nếu chọn tổ chức tái chế, doanh nghiệp có thể tự thực hiện, ký hợp đồng với đơn vị tái chế, ủy quyền cho đơn vị tổ chức trách nhiệm tái chế hoặc kết hợp các hình thức phù hợp.
Trường hợp doanh nghiệp tự tái chế hoặc thuê đơn vị tái chế, cơ sở thực hiện phải đáp ứng các điều kiện môi trường tương ứng theo quy định.
Đóng góp tài chính
Doanh nghiệp không có hệ thống thu hồi hoặc không muốn trực tiếp tổ chức hoạt động tái chế có thể lựa chọn đóng góp tài chính theo mức được xác định từ tỷ lệ R, khối lượng V và Fs.
Việc lựa chọn hình thức nào không nên chỉ dựa vào Fs. Doanh nghiệp đã có hệ thống thu hồi, lượng bao bì lớn và chuỗi tái chế ổn định có thể cân nhắc tổ chức tái chế. Ngược lại, với doanh nghiệp không có hạ tầng thu gom hoặc muốn đơn giản hóa quá trình thực hiện, đóng góp tài chính có thể dễ quản lý hơn.
Khi so sánh hai phương án, cần tính cả chi phí thu gom, vận chuyển, phân loại, quản lý chứng từ, xác nhận khối lượng và báo cáo thay vì chỉ so sánh giá tái chế với Fs.
VII. Cách kê khai EPR bao bì
Để kê khai đúng, doanh nghiệp nên bắt đầu từ sản phẩm hoặc SKU, không nên bắt đầu từ một bảng tổng hợp vật liệu bao bì.
Quy trình có thể thực hiện theo các bước sau:
- Xác định sản phẩm có thuộc nhóm phải thực hiện EPR hay không.
- Xác định bao bì trực tiếp và bao bì ngoài của từng sản phẩm.
- Xác định vật liệu cấu thành bao bì.
- Xác định khối lượng bao bì trên mỗi đơn vị sản phẩm.
- Xác định số lượng sản phẩm thực tế đã đưa ra thị trường.
- Tính tổng khối lượng bao bì theo từng nhóm vật liệu.
- Áp dụng tỷ lệ tái chế R tương ứng.
- Lựa chọn hình thức tổ chức tái chế hoặc đóng góp tài chính.
- Kê khai thông tin trên Hệ thống thông tin EPR quốc gia.
Cách kê khai bao bì gồm nhiều vật liệu
Thông tư 24/2026/TT-BNNMT hướng dẫn cách kê khai đối với bao bì có nhiều vật liệu cấu thành. Doanh nghiệp có thể kê khai toàn bộ bao bì theo vật liệu có khối lượng lớn nhất hoặc kê khai chi tiết tối đa ba loại vật liệu có khối lượng lớn nhất cấu thành bao bì.
Tổng khối lượng kê khai vẫn phải phản ánh toàn bộ khối lượng bao bì.
Ví dụ, một chai nước gồm:
- Thân chai PET: 0,03 kg.
- Nắp PP: 0,01 kg.
- Nhãn nhựa mềm đa vật liệu: 0,01 kg.
Tổng khối lượng bao bì là 0,05 kg. Doanh nghiệp có thể kê khai theo phương pháp được pháp luật cho phép, nhưng cần áp dụng thống nhất vì cách phân loại có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ R và mức Fs.
Thời hạn kê khai và đóng góp tài chính
Thông tin EPR được thực hiện thông qua Hệ thống thông tin EPR quốc gia, phục vụ việc đăng ký, báo cáo, kê khai và quản lý trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì.
Đối với doanh nghiệp lựa chọn hình thức đóng góp tài chính:
- Trước ngày 01/04 hằng năm: kê khai số tiền đóng góp đối với sản phẩm, bao bì được đưa ra thị trường của năm liền trước.
- Trước ngày 20/04 hằng năm: nộp đủ số tiền đã kê khai vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam.
VIII. Những lỗi thường gặp khi kê khai EPR bao bì
Gộp tất cả vật tư đóng gói vào EPR
Sai sót thường xuất hiện ngay từ bước xác định phạm vi bao bì. Doanh nghiệp có thể cộng toàn bộ carton, màng nhựa, pallet và vật tư vận chuyển vào EPR chỉ vì chúng được sử dụng để đóng hàng.
Trong khi đó, bao bì thương phẩm và vật tư chỉ phục vụ lưu kho, vận chuyển cần được phân biệt theo chức năng thực tế.
Chỉ tính bao bì tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm
Ở chiều ngược lại, có doanh nghiệp chỉ tính chai, túi hoặc hộp tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm mà bỏ qua bao bì ngoài vẫn lưu thông cùng hàng hóa.
Phân loại bao bì theo hình thức thay vì vật liệu
"Chai nhựa" chưa đủ để xác định tỷ lệ và Fs. Doanh nghiệp cần biết đó là PET, HDPE, PP hay một nhóm nhựa khác.
Tương tự, bao bì nhựa mềm đơn vật liệu và nhựa mềm đa vật liệu có cùng tỷ lệ tái chế 10% nhưng mức Fs khác nhau. Việc phân loại sai có thể làm thay đổi nghĩa vụ tài chính.
Dùng số lượng bao bì đã mua để kê khai
Doanh nghiệp cũng cần tránh lấy toàn bộ số lượng bao bì mua vào làm số lượng đưa ra thị trường. Bao bì mua về có thể còn tồn kho, bị lỗi, hư hỏng hoặc chưa đi cùng sản phẩm ra thị trường.
Dữ liệu EPR nên được đối chiếu với sản lượng thực tế đã đưa ra thị trường để hạn chế chênh lệch khi kê khai.
Một trình tự kiểm tra có thể áp dụng là:
Sản phẩm thuộc phạm vi EPR → bao bì thương phẩm → loại bao bì → vật liệu → khối lượng → số lượng đưa ra thị trường → tỷ lệ R → hình thức thực hiện → Fs nếu đóng góp tài chính.
IX. Câu hỏi thường gặp về EPR bao bì
Thùng carton có phải thực hiện EPR không?
Không phải mọi thùng carton đều thuộc phạm vi EPR bao bì. Nếu carton là bao bì ngoài và lưu thông cùng sản phẩm ra thị trường, nó có thể được xác định là bao bì thương phẩm.
Nếu thùng carton chỉ được sử dụng bổ sung để lưu kho, bảo quản hoặc vận chuyển hàng hóa đã có bao bì và nhãn hoàn chỉnh thì cần phân biệt với bao bì thương phẩm trước khi kê khai.
Màng PE quấn pallet có thuộc EPR bao bì không?
Không thể xác định chỉ dựa trên tên vật liệu là màng PE. Nếu màng chỉ dùng để cố định hàng hóa trên pallet trong quá trình lưu kho, bốc xếp hoặc vận chuyển, chức năng của nó khác với bao bì thương phẩm.
Ngược lại, màng co bao quanh một lốc sản phẩm và lưu thông cùng sản phẩm ra thị trường có thể được xác định là bao bì ngoài.
Doanh nghiệp dưới 30 tỷ đồng có phải thực hiện EPR bao bì không?
Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định nhà sản xuất, nhập khẩu có tổng doanh thu từ các sản phẩm thuộc nhóm bao bì được quy định tại khoản 2 Điều 4 dưới 30 tỷ đồng/năm không phải thực hiện trách nhiệm tái chế.
Doanh nghiệp cần xác định đúng phần doanh thu thuộc phạm vi quy định thay vì chỉ nhìn vào doanh thu của một loại bao bì riêng lẻ.
Doanh nghiệp có bắt buộc phải tự tái chế bao bì không?
Không. Doanh nghiệp có thể lựa chọn tổ chức tái chế hoặc đóng góp tài chính. Nếu tổ chức tái chế, doanh nghiệp có thể tự thực hiện, thuê đơn vị tái chế hoặc ủy quyền cho đơn vị tổ chức trách nhiệm tái chế theo quy định.
Bao bì gồm nhiều vật liệu được kê khai thế nào?
Thông tư 24/2026/TT-BNNMT cho phép doanh nghiệp kê khai theo vật liệu có khối lượng lớn nhất hoặc kê khai chi tiết tối đa ba vật liệu có khối lượng lớn nhất.
Khối lượng bao bì kê khai vẫn phải phản ánh tổng khối lượng các vật liệu cấu thành, kể cả phần vật liệu không được tách riêng thành dòng kê khai.
X. Doanh nghiệp nên chuẩn bị gì trước khi kê khai EPR bao bì?
EPR bao bì không bắt đầu từ việc lấy một tỷ lệ tái chế rồi nhân với tổng số bao bì đã mua. Điểm quyết định là xác định đúng sản phẩm, đúng bao bì thương phẩm và đúng vật liệu trước khi tính khối lượng và nghĩa vụ tái chế.
Doanh nghiệp nên chuẩn hóa dữ liệu bao bì theo từng sản phẩm ngay từ khâu mua hàng hoặc quản lý SKU. Mỗi loại bao bì cần có thông tin về chức năng, vật liệu, khối lượng và số lượng thực tế đã đưa ra thị trường.
Khi dữ liệu đầu vào được quản lý rõ ràng, việc xác định tỷ lệ R, Fs, lựa chọn phương án tái chế và kê khai trên Hệ thống thông tin EPR quốc gia cũng thuận lợi hơn.
Một yếu tố khác cần được tính đến là thiết kế bao bì có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí EPR. Hai giải pháp đóng gói có cùng chức năng nhưng khác vật liệu, khối lượng hoặc khả năng tái chế có thể tạo ra nghĩa vụ khác nhau.
Vì vậy, EPR không chỉ là công việc kê khai sau khi sản phẩm đã đưa ra thị trường. Dữ liệu EPR cũng có thể được sử dụng ngay từ giai đoạn lựa chọn vật liệu và thiết kế cấu trúc bao bì để doanh nghiệp chủ động hơn về chi phí và trách nhiệm tái chế.
Xem thêm